Tags
Hồi trước có đọc một câu chuyện thế này:
”Phật hỏi Tôn giả A Nan Đà (một trong mười đại đệ tử của ngài):
– Con yêu người con gái ấy đến thế nào?
A Nan Đà mỉm cười đáp rằng:
– Nguyện làm cầu đá, năm trăm năm dãi nắng dầm mưa, chỉ để chờ một lần người ấy ghé ngang qua.
Thật là một câu trả lời điềm tĩnh ngọt ngào. Nhưng ngay dưới bài đó đã có một comment rất hợp lý “Bởi vậy ông ấy mới làm được Phật” :))
Nhớ câu chuyện này, vì có lẽ ấn tượng lần đầu tiên được biết cõi phật thanh thiền cũng có kẻ nặng tình nhi nữ, mà cái tình ấy nghe ra cứ như suối, trong trẻo nhẹ nhàng mà chảy liên miên. Hôm nay tình cờ đọc được một câu chuyện khác. Câu chuyện về Thương Ương Gia Thố.
Thương Ương Gia Thố là Đạt lai Lạt ma đời thứ sáu của Tây Tạng, sống vào khoảng thế kỷ mười bảy, dưới thời Khang Hy. Tương truyền Đạt lai Lạt Ma đời thứ năm năm 1682 sau khi xây xong điện Bố Lạp Đạt thì qua đời, nhưng đệ tử thân tín Tang Kết Gia Thố vì muốn thâu tóm quyền hành nên cố tình bưng bít sự việc, suốt mười lăm năm không phát tang. Năm 1696, trong lúc bình định phản loạn, Khang Hy tình cờ phát hiện ra chuỵên này nên cực kỳ nổi giận. Tang Kết Gia Thố liền kiếm người đem về một cậu bé mười lăm tuổi, bảo rằng đây chính là Lạt Ma chuyển thế, lập làm Đạt lai Lạt Ma đời thứ sáu. Kẻ thiếu niên mười lăm tuổi đó, cuối cùng lại được nhớ đến như một nhà thơ lãng mạn trứ danh – Thương Ương Gia Thố. Ông ta được gọi là một “Lạt ma nổi loạn”, bởi cách sống phóng túng, không tuân thủ sắc giới của nhà Phật. Kể ra cuộc đời vận số ngắn ngủi, vì chính biến ở Tây Tạng mà chịu lưu đày, mất khi chưa tròn 25 tuổi. Đúng là phù hoa, càng rực rỡ ly kỳ lại càng ngắn ngủi. Thơ để lại rất nhiều, chủ yếu là thơ tình (thậm chí còn có vài phần nhục thể), tuy thật ra cũng lẫn lộn đôi khi khó phân biệt bài nào đúng là chân tác, bài nào không. Trong số đó có một bài hai câu cuối thế này:
“Thế gian nan đắc song toàn pháp
Bất phụ như lai, bất phụ khanh.”
Đại khái là:
“Đời này thật khó vẹn cả hai
Không phụ Như Lai, chẳng phụ nàng”
Thông tuệ kinh luân, cuối cùng cũng khó cứu được mình. Phật dạy phổ độ chúng sinh nhưng chẳng cho để gói tình lại cho riêng ai. Phật dạy yêu thương mọi người nhưng vì chúng sinh bình đẳng nên người chẳng thể đặc biệt hơn.
Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn xí thạnh khổ. Phàm không yêu thì chia ly không khổ. Nhưng ví thử chưa trải mưa nắng yêu đương dằn vặt thì vị chân không cũng chỉ nhàn nhạt không mùi.
Tốt nhất là không gặp, không gặp sẽ không yêu.
Không biết chẳng tương tư
Không làm bạn thì chẳng mắc nợ gì nhau.
Không thương làm sao nhớ.
Chưa từng yêu thì sẽ chẳng bao giờ chia tay.
Không có quan hệ gì, thì hà cớ phải gặp nhau.
Chẳng gây lỗi lầm thì không cần phụ rẫy.
Không hứa hẹn thì người khỏi mang lòng chờ đợi.
Không phụ thuộc gì thì chẳng sinh ra dựa dẫm.
Tốt nhất nữa là, không tình cờ gặp mặt – mãi mãi không ở bên nhau.
Lần đầu đọc “Thập giới thi” trong Bộ Bộ Kinh Tâm đã nói đùa rằng mấy cái tốt nhất này mà xảy ra hết thì đời đúng là vô vị, hèn chi người ta nói đi tu là sướng nhất. Rốt cuộc lời nói thật là chính xác, vì người viết bài này là Thương Ương Gia Thố , không chỉ đi tu mà còn là Lạt ma bậc cao nhất. Sắc không không sắc, rốt cuộc đời người quan trọng không phải bỏ thế nào, mà là thật lòng mình có muốn buông tay không.
Năm trăm năm cầu đá chờ nàng, dù người chẳng phải Như Lai 🙂
Nguồn: Kaze’s Blog.
********************
Đảm bảo đọc cái dòng đo đỏ ở trên sẽ có ối cô “awwwwww”. Sau sẽ post một số bài bình luận về “Bộ bộ kinh tâm”. Ngược thật, Shi vẫn còn vương vấn tơ tưởng hội chứng “hậu Bộ bộ” đây, đau lòng quá huhu, có ai an ủi không???
***Update 10/8/2020: Cho dù trải qua trăm đắng ngàn cay như vậy, vẫn chọn cùng người tương kiến.
Tương tư thập giới_Phượng Hoàng Trường Ly.

Tương tư thập giới.
dì yī zuì hǎo bú xiàng jiàn ,rú cǐ biàn kě bú xiàng liàn 。
yī dài jiàn kuān yuàn qiū fēng bēi huà shàn
dì èr zuì hǎo bú xiàng zhī ,rú cǐ biàn kě bú xiàng sī 。
xiàng sī zhěn pàn ,dàn píng jiàn lèi hén shī
dì sān zuì hǎo bú xiàng bàn ,rú cǐ biàn kě bú xiàng qiàn 。
bié shì yī bān jiǎn bú duàn lǐ hái luàn
dì sì zuì hǎo bú xiàng xī ,rú cǐ biàn kě bú xiàng yì 。
dì wǔ zuì hǎo bú xiàng ài ,rú cǐ biàn kě bú xiàng qì 。
cǐ qíng kě dài jì yì lǐ yī gè nǐ
zhòng mén shēn jū nán dú shàng huà lóu xī
dì liù zuì hǎo bú xiàng duì ,rú cǐ biàn kě bú xiàng huì 。
zài xiàng huì qǐ zhī wú shuí yǔ guī
dì qī zuì hǎo bú xiàng wù ,rú cǐ biàn kě bú xiàng fù 。
fù jìn cāng shēng fù jìn péng shān wàn zhòng
dì bā zuì hǎo bú xiàng xǔ ,rú cǐ biàn kě bú xiàng xù 。
xù duàn zhī jiān tīng yī yè wú tóng yǔ
《xiàng sī shí jiè 》
cí :cāng yāng jiā cuò 、fèng huáng zhǎng lí
qǔ :hóng xí yī
chàng :fèng huáng zhǎng lí
dàn céng xiàng jiàn biàn xiàng zhī ,xiàng jiàn hé rú bú jiàn shí 。
ān dé yǔ jūn xiàng jué jué ,miǎn jiāo shēng sǐ zuò xiàng sī 。
dì jiǔ zuì hǎo bú xiàng yī ,rú cǐ biàn kě bú xiàng wēi 。
dōng láo xī yàn tiān yù xiǎo gè zì fēi
dì shí zuì hǎo bú xiàng yù ,rú cǐ biàn kě bú xiàng jù 。
qǔ zhōng rén sàn niàn qù qù shāng bié lí
dàn céng xiàng jiàn biàn xiàng zhī ,xiàng jiàn hé rú bú jiàn shí 。
jiàn yǔ bú jiàn hé xū bēi hé xū yuàn
ān dé yǔ jūn xiàng jué jué ,miǎn jiāo shēng sǐ zuò xiàng sī 。
xiàng sī wú yì shí jiè shuō yǔ jūn zhī
xiàng sī wú yì shí jiè shuō yǔ jūn zhī ”